EPR tại Việt Nam theo Nghị định 110/2026: nhà sản xuất, nhập khẩu bao bì cần làm gì

Trả lời nhanh. Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), ban hành ngày 1/4/2026, có hiệu lực từ 25/5/2026. Nhà sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc diện phải tái chế một tỷ lệ bao bì đưa ra thị trường, từ 10% đến 22% tùy vật liệu, hoặc đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Hạn đăng ký kế hoạch, báo cáo là trước ngày 1/4 hằng năm; hạn nộp tiền đóng góp là trước ngày 20/4.
Nghị định quy định chi tiết Điều 54 và 55 Luật Bảo vệ môi trường. Bài viết tóm tắt từ văn bản đăng Công báo số 229 ngày 19/4/2026, không thay thế tư vấn pháp lý.
Đối tượng áp dụng
Nghĩa vụ áp dụng cho bao bì thương phẩm (bao bì trực tiếp và bao bì ngoài) của: thực phẩm (trừ kẹo cao su); mỹ phẩm; thuốc; phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y; xà phòng, chất tẩy rửa, chế phẩm vệ sinh; xi măng.
Một số trường hợp cụ thể: sản phẩm cùng nhãn hiệu sản xuất ở nhiều nơi thì đơn vị chịu trách nhiệm ghi nhãn thực hiện nghĩa vụ; gia công thì bên đặt gia công chịu trách nhiệm; nhập khẩu ủy thác thì bên chịu trách nhiệm ghi nhãn thực hiện.
Không phải thực hiện: hàng xuất khẩu, tạm nhập tái xuất, nghiên cứu, thử nghiệm; doanh nghiệp có doanh thu từ các sản phẩm thuộc diện dưới 30 tỷ đồng/năm; nhà sản xuất tự thu hồi, đóng gói lại bao bì với tỷ lệ bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tái chế bắt buộc.
Tỷ lệ tái chế bắt buộc đối với bao bì (Phụ lục I)
| Bao bì | Tỷ lệ |
|---|---|
| Giấy, carton | 20% |
| Giấy hỗn hợp đa lớp | 15% |
| Nhôm | 22% |
| Sắt và kim loại khác | 20% |
| PET cứng | 22% |
| HDPE, LDPE, PP, PS cứng | 15% |
| EPS, PVC cứng và nhựa cứng khác (trừ nhựa phân hủy sinh học) | 10% |
| Bao bì nhựa mềm (đơn vật liệu và đa vật liệu) | 10% |
| Thủy tinh | 15% |
Với nhựa, quy cách tái chế là sản xuất hạt nhựa thương phẩm hoặc bao bì, sản phẩm cụ thể; không tính mảnh nhựa, và với nhựa cứng không tính nhiên liệu đốt. Tỷ lệ được điều chỉnh tăng 3 năm một lần, mỗi lần không quá 10%, lần đầu vào năm 2029. Phần tái chế vượt tỷ lệ được bảo lưu sang các năm sau.
Các hình thức thực hiện
Tự tái chế (tổ chức điểm thu hồi và tái chế tại cơ sở do mình đầu tư), thuê đơn vị tái chế, ủy quyền cho tổ chức trách nhiệm tái chế, hoặc đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Số tiền đóng góp F = R × V × Fs: tỷ lệ tái chế bắt buộc nhân khối lượng đưa ra thị trường nhân mức đóng góp trên mỗi kg do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành. Doanh nghiệp chọn đóng góp tài chính không phải đăng ký kế hoạch và báo cáo kết quả tái chế.
Thời hạn và báo cáo
- Trước 1/4 hằng năm: đăng ký kế hoạch tái chế và báo cáo kết quả năm trước qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia, hoặc kê khai số tiền đóng góp.
- Trước 20/4 hằng năm: nộp đủ tiền đóng góp vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.
- Năm 2029: điều chỉnh tỷ lệ tái chế và mức Fs lần đầu.
Hướng dẫn chi tiết tại Thông tư 24/2026/TT-BNNMT.
Lựa chọn vật liệu ảnh hưởng thế nào
Nghị định đặt tỷ lệ theo loại vật liệu và dạng bao bì, nên đổi vật liệu có thể chuyển bao bì sang dòng khác trong Phụ lục I. Dòng "EPS, PVC cứng và nhựa cứng khác" loại trừ nhựa phân hủy sinh học. Ngoài ra, nghị định không giảm nghĩa vụ chung cho bao bì phân hủy sinh học hay có hàm lượng tái chế. Riêng khoản đóng góp xử lý chất thải đối với túi ni lông (mục 6.8 Phụ lục II) chỉ áp dụng cho túi khó phân hủy sinh học. Về thực tế, bao bì PE đơn vật liệu như ReFlex dễ tái chế thành hạt nhựa, đúng quy cách nghị định yêu cầu, còn bao bì nhẹ hơn làm giảm V trong công thức. CompoFlex và BioFlex liên quan đến một nhóm quy định khác: lộ trình túi ni lông trong Nghị định 08/2022 và, với túi ni lông khó phân hủy sinh học cỡ nhỏ, khoản đóng góp xử lý chất thải theo Nghị định 110, xem hướng dẫn Nhãn sinh thái.
Câu hỏi thường gặp
Nghị định 110/2026/NĐ-CP là gì? Nghị định về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu, quy định chi tiết Điều 54 và 55 Luật Bảo vệ môi trường.
EPR theo Nghị định 110 có hiệu lực từ khi nào? Từ ngày 25/5/2026. Nghị định ban hành ngày 1/4/2026, do Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký.
Tỷ lệ tái chế bao bì nhựa là bao nhiêu? PET cứng 22%; HDPE, LDPE, PP, PS cứng 15%; EPS, PVC và nhựa cứng khác 10%; bao bì nhựa mềm 10%.
Doanh nghiệp có thể đóng tiền thay vì tái chế không? Có, đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam theo công thức F = R × V × Fs; kê khai trước 1/4 và nộp trước 20/4 hằng năm.
EPR có áp dụng cho nhà nhập khẩu không? Có, như nhà sản xuất trong nước, trừ khi thuộc trường hợp miễn trừ như doanh thu dưới 30 tỷ đồng/năm.
Nhà bán lẻ có thuộc diện EPR không? Có, khi là nhà sản xuất, nhập khẩu hoặc đơn vị chịu trách nhiệm ghi nhãn, ví dụ hàng nhãn riêng. Chỉ bán hàng của thương hiệu khác thì không tự phát sinh nghĩa vụ. Nhà bán lẻ nhập khẩu, hoặc đặt sản xuất dưới nhãn riêng, túi ni lông khó phân hủy sinh học cỡ nhỏ cũng phải đóng góp xử lý chất thải (Điều 9, mục 6.8 Phụ lục II).
Bao bì phân hủy sinh học hoặc tái chế có giảm nghĩa vụ EPR không? Nghị định không giảm chung cho cả hai. Nhựa phân hủy sinh học được loại trừ khỏi một nhóm nhựa cứng trong Phụ lục I; ngoài ra nghĩa vụ tính theo loại và khối lượng bao bì. Riêng khoản đóng góp xử lý chất thải đối với túi ni lông (mục 6.8 Phụ lục II) chỉ áp dụng cho túi khó phân hủy sinh học.
Bài viết liên quan
- Màng PVA tan trong nước AquaFlex
- Túi phân hủy sinh học CompoFlex
- Hạt nhựa PE-TPS BioFlex
- Túi nhựa tái chế ReFlex
- Nhãn sinh thái Việt Nam và siêu thị
Nguồn: Công báo: Nghị định 110/2026/NĐ-CP | Thông tư 24/2026/TT-BNNMT
